Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

Quan niệm độc đáo của Đông y về bệnh 'yếu' nam khoa

Từ cách đây hàng trăm năm, đại lương y Hải Thượng Lãn Ông đã có những ý kiến độc đáo về bệnh nam khoa, đặc biệt là mục liệt dương . Những tri thức này đến nay vẫn được đánh giá là rất cấp thiết, mang lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh “yếu” ở nam giới.

Tác phẩm “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gồm có 66 cuốn chia thành 28 tập. Trong phần Y trung quan kiện cuốn 25 đoạn 85, Hải Thượng Lãn ông đã viết về vấn đề liệt dương như sau: Dương sự khỏe hay yếu là do chấn hỏa thịnh hay suy, vì hỏa tác dụng nhưng căn bản là do tinh sự.

Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: “Thận là cỗi nguồn của tạng phủ, là gốc của 13 kinh mạch, là cơ sở của sinh mệnh, là bể chứa của tinh huyết”. Từ đó, quan niệm của Hải Thượng Lãn Ông là: Người ta dùng chất cay nóng cường dương như vậy là lầm to. Chỉ nên bổ đều năm tạng, khiến tinh ba của năm tạng chuyển về thận, vì thận là nơi tăng chứa tinh, chỉ dùng Bát vị hoàn gia, uống nhiều vị thuốc bổ tinh huyết uống để bổ dưỡng thận.

Do đó, các bài thuốc chữa liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh… của Đông y đều nhằm tác động đến tạng này. tức thị bổ đều 5 tạng, khiến tinh huyết của 5 tạng càng ngày càng nhiều và chuyển về thận, từ đó không cần làm cho cường dương mà dương vẫn tự cường.

Ngoài ra, Hải Thượng Lãn Ông cũng để lại kinh nghiệm quý về điều trị liệt dương, trong đó nhấn mạnh vai trò của việc tẩm bổ đường tiêu hóa. Ông quan niệm: “… Luận rằng vị khỏe thì ăn uống tăng tiến, tinh ba hàng ngày sản sinh không ngớt mới có thể chuyên chở về thận. Sách nói vị mạnh thì thận khỏe và tinh dịch dồi dào, vị hư thì tinh bị tổn thương mà dương sự cũng bị suy kém chính là như thế”. Một quan niệm nữa của Đại danh y, là việc điều trị những trục trặc sinh lý nam giới phải được coi xét trong một tổng thể chức năng của các cơ quan trong thân.

bổ dưỡng bằng thực phẩm như hải sản, rượu thuốc, các vị thuốc Đông y, chà là, trà gừng,...chữa yếu sinh lý nam giới

Sinh thời, Hải Thượng Lãn Ông đã từng nói: “Biết được điều chủ yếu, chỉ một lời là rõ hết. Không biết được điều đẵn thì lan man vô cùng”. Do đó, phải tìm ra nguyên nhân căn bản, đẵn của các bệnh nam khoa, bệnh yếu sinh lý , trong đó có liệt dương, sẽ tìm thấy hướng điều trị. Khi có những tả của rối loạn cương dương (xuất tinh sớm, liệt dương, suy giảm thèm muốn tình dục…), nam giới nên lưu tâm một số nhóm nguyên nhân để tự có hướng điều trị:

- thương tổn thực thể trên huyết quản ở dương vật hay Tổn thương tâm thần thực vật, tủy sống, khiếm khuyết trong cấu trúc dương vật… thì việc điều trị phải dựa vào khoa giải phẫu để phục hồi lại các chức năng bị mất.

Tỏi cũng là một vị thuốc chữa yếu sinh lý ở nam giới

- Do bệnh tật như: bị bệnh tim, cao áp huyết, đái tháo đường, cường tuyến giáp, suy gan, suy thận, phì đại tuyến tiền liệt... thì vấn đề là điều trị các bệnh gây ra tình trạng suy yếu sinh lý là chính.

- Do lão suy (lão hóa), vì dùng dược phẩm, rượu, thuốc lá, chất kích thích đẩy nhanh quá trình lão hóa các bộ phận trên cơ thể, giảm khả năng sản sinh nội tiết tố nam testosterone, dẫn tới tình trạng suy nhược, mệt mỏi cơ thể kéo dài, nam giới cần phải thay thế, hạn chế hay dứt bỏ những nếp gây hại này, mới mong tái lập lại tình trạng cường dương.

- Do thể trạng, tâm lý, xúc cảm âm tính kéo dài - duyên do của mỗi cá nhân. thỉnh thoảng, tự bản thân nam giới chỉ cần giải tỏa tâm lý bít tất tay, vướng mắc trong đời sống vợ chồng, đổi nếp sống, nếp sinh hoạt, môi trường sống hoặc làm việc là có thể cải thiện tình hình. Tuy nhiên, một đôi trường hợp cần đến sự trợ giúp, tham vấn các thầy thuốc.

BS. Đỗ Nam

( SKĐS cuối phẳng )

Phân biệt trà thật, trà giả

Kinh nghiệm phân biệt trà giả: Trà làm giả thường là trà có lẫn búp sim, búp ổi. Búp trà thường nhỏ, dài, xoắn chặt. Búp ổi, búp sim thì to mập hơn, lá dày hơn. Vị trà chát dịu, có dư vị ngọt sau uống. Búp sim, búp ổi có vị đắng, hăng và không để lại dư vị ngọt ở cổ. Búp sim, búp ổi cũng chứa hợp chất tanin gây vị chát nhưng cấu tạo hóa học của loại tanin này khác với tanin trà. Hơn nữa, búp sim, búp ổi hoàn toàn không có các chất quý khác có ở trà để gây cảm giác ngọt nhạt huých cho người thưởng thức.

Phân biệt trà thật, trà giả

Khi chọn trà, nên xem kỹ búp trà có nhỏ đều không. Nhấm thử vài cánh, nếu thấy vị chát quá gắt, đắng, cảm giác hăng hăng hơi gây ở cổ thì cần cảnh giác. Có điều kiện nên pha thử một ấm. Bạn sẽ dễ dàng phát hiện trà thật, trà giả vì trong nước sôi, các búp lá nở to ra và sẽ hiện nguyên hình. để ý quan sát sẽ thấy: lá trà thường mỏng, bóng, gân lá nhỏ, còn lá ổi, lá sim thường dày, thô, gân lá nổi to, rõ ràng.

Trà giả còn có dạng pha trộn bã trà cũ sấy khô. Loại này tuy vẫn là trà nhưng chỉ còn cái xác. Trà khi đã hãm với nước sôi, các chất trong lá trà tan ra hết thì bã chỉ còn lại xen-luy-lô. Trà trộn với bã cũ thường nhẹ, cánh trà không xoăn chặt. Nhấm thử vài cánh có vị nồng, ít chát. Pha thử một ấm với lượng thường nhật thấy nước rất nhạt, hơi nồng và không có dư vị, ít thơm là đúng trà trộn lẫn bã cũ. ngoại giả còn một kinh nghiệm là trà trộn bã cũ pha lại rất nát chứ không như bã trà pha lần đầu.

Hãm trà đúng điệu: Trà hãm đúng cách mới có nước trà tốt, uống thơm và bổ. Nước pha trà phải thật sôi đến 1000C, nhưng không được sôi lâu quá vì sôi lâu nước pha trà sẽ bị nhạt. Trước khi bỏ trà vào, ấm phải được tráng nước sôi. Hãm trà trong vòng 3-5 phút, tùy theo khẩu vị. Lắc đều trà trong ấm rồi rót hết nước ra. Không nên hãm trà quá 5 phút vì qua thời kì này, cafein không tăng thêm mà trà chỉ tiết thêm chất tanin gây vị chát nhiều hơn, uống mất ngon và trà có màu sẫm.

Ngọc Bội

Chữa ho, giải cảm từ cải cúc

Là cây thảo có lá ôm vào thân, xẻ lông chim hai lần với những thuỳ hình trứng hay hình thìa không đều. Cụm hoa ở nách lá, các hoa ở mép màu vàng sẫm, các hoa ở giữa đầu màu vàng lục, thơm. Cải cúc được dân chúng trồng và dùng thân thuộc để làm rau ăn.

Ngoài được sử dụng như một loại rau giúp khai vị làm ăn ngon, cải cúc còn là vị thuốc giúp tiêu hóa, trừ đờm, tán phong chữa bệnh do giá lạnh. Bộ phận dùng làm thuốc là lá, dùng tươi hoặc đã làm khô trong mát (không phơi nắng vì làm mất tinh dầu thơm). Theo nghiên cứu hiện đại, trong rau cải cúc chứa 1,85% protid, 2,57% glucid, 0,43% lipid và có nhiều vitamin B, C. Còn theo Đông y, cải cúc có vị ngọt nhạt, hơi đắng, the, mùi thơm, tính mát có tác dụng chữa ho, đau đầu, giải cảm...

Cháo giải cảm cúm (đau họng, ho, sốt): Rau cải cúc tươi 150g, rửa sạch cho ráo nước sau đó cho vào bát to, đổ cháo đang sôi lên trên để 5-10 phút cho đỡ nóng thì trộn rau lên ăn, ngày ăn 2-3 lần. Bài thuốc này vừa đơn giản lại có tác dụng giải cảm nhanh.

Chữa ho dai dẳng: Rau cải cúc tươi 100-150g, phổi lợn 200g. Nấu canh đủ 1 bát to để ăn với cơm, ăn khi canh còn nóng, ngày ăn một lần, mỗi liệu trình ăn liền 3 - 4 ngày. (Cách nấu canh: Phổi lợn thái nhỏ, ướp với gừng và gia vị vừa đủ đem xào chín, cho nước vào đun sôi mới cho rau cải cúc, khi rau chín nhấc ra ngay).

Trị chứng đau đầu khi trời lạnh: Cải cúc khô 10-15g, đem sắc với 3 bát nước còn một bát. Ngày uống 2 lần, uống vào buổi sáng và tối, uống sau bữa ăn. Uống liên tục trong 5 - 7 ngày. Hoặc dùng một nắm lá cải cúc tươi hơ nóng chườm đắp lên đỉnh đầu và hai bên màng tang vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc mỗi khi thấy đau đầu.

Bác sĩ Nguyễn Huyền